Menu
Xem lẹ

Trang nhà > Lịch sử > Trung đại > Tham vọng của Hoàng đế Suryavarman II

Tham vọng của Hoàng đế Suryavarman II

Thứ Ba 2, Tháng Mười Một 2010

Trong sự nghiệp bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, lấy lại những phần đất bị nước Chiêm lấn chiếm, Lý Nhân Tông đã chiến thắng cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt của liên minh Tống -Chiêm -Chân Lạp năm 1076. Tiếp theo vào thời Lý Thần Tông, Lý Anh Tông trị vì, Đại Việt đã nhiều lần bẻ gãy ý đồ của vị vua thống trị đế quốc Chân Lạp là Suyrayavarman II. Trong thế kỷ 12, Suyrayavarman II đã từng tấn công nhiều vương quốc ở Đông Nam Á để bành trướng lãnh thổ, nhưng không thắng được nhà Lý và cuối cùng phải mất mạng trong lần thân chinh đánh phá Đại Việt năm 1150.

Đại Việt thắng Tống - Chiêm - Chân Lạp

Năm Bính Thìn niên hiệu Thái Ninh thứ 5 [1076], triều đình Tống Thần Tông đóng ở kinh đô Khai Phong phải đối phó với nước Kim, nước Liêu ở phía Bắc và nội bộ đang chia rẽ trầm trọng. Nhưng vì nước Tống là một đại quốc, đang hận bị Đại Việt đánh vào châu Ung, châu Khâm trước đó nên họ vẫn quyết tâm đánh chiếm Đại Việt. Triều đình Tống Thần Tông đã rất thâm độc khi liên minh với vương quốc Chiêm Thành (Champa) và đế quốc Chân Lạp (Chenla, Empire Khmer) ở phía tây nam nhằm tiêu diệt Đại Việt đang tự cường và tự chủ.

Bản đồ Đông Nam Á vào thế kỷ 12 (Chân Lạp màu đỏ)

Vương quốc Chiêm Thành mặc dầu đã bị Đại Việt đánh bại nhiều lần trước đó, thậm chí bị đế quốc Chân Lạp cướp phá, nhưng đến năm 1074, hoàng thân Than lên ngôi xưng là Harivarman IV (1074 - 1080), nước Chiêm Thành phục hưng và vua cho dựng lại kinh đô Indrapura (ở Quảng Nam ngày nay) đã bị bỏ từ lâu, trùng tu khu thánh địa Mỹ Sơn và xây mới nhiều đền đài tráng lệ. Ông vua Chiêm Thành này có thực tài nên vô hiệu hoá được một chiến dịch quân sự của Đại Việt, do Lý Thường Kiệt trực tiếp chỉ huy đánh vào Chiêm Thành năm 1075.

Lúc bấy giờ Chân Lạp với kinh đô Angkor đã trở thành đế quốc, nhiều lần định thôn tính Chiêm Thành nhưng cũng vấp phải sự chống trả mãnh liệt. Trước đó, khi vua Suryavarman I tài ba của Chân Lạp mất vào năm 1050, thì 2 người con là Udayadityavarman II và Harshavarman III thừa kế sự nghiệp. Thời kỳ từ 1050 đến 1066 ở Chân Lạp đã xảy ra loạn lạc liên miên. Sau năm 1066 Harshavarman III mới nắm được thực quyền, thống nhất đất nước, vua liền nhiều lần thân chinh đi đánh Chiêm Thành nhưng không thành công trọn vẹn.

Tuy Tống -Chiêm -Chân Lạp liên minh đánh Đại Việt nhưng không chặt chẽ, chủ yếu vẫn là quân Tống tham chiến dưới sự chỉ huy của Chiêu thảo sứ Quách Quỳ. Khi xâm lược Đại Việt vào tháng 3, mùa xuân năm Bính Thìn [1076] liên minh này đã bị Đại Việt đánh bại, quân xâm lược Tống phải đền tội hơn 1000 binh. Vua Lý Nhân Tông anh minh đã sai Lý Thường Kiệt thống lĩnh đại quân để chống quân Tống. Với vị tổng chỉ huy tài ba, quân Đại Việt đã làm nên đại thắng ở phòng tuyến sông Như Nguyệt lẫy lừng trong lịch sử. Vua Lý Nhân Tông vẫn ngự ở kinh đô Thăng Long để đọc thư báo tiệp hàng ngày.

Thế kỷ 11, 12 Chân Lạp đang trên đà mở mang lãnh thổ, chiếm nhiều đất đai của Chiêm Thành, Thái, Lào, Miến để phát triển thành đế quốc. Các vua Chân Lạp từ 1000 đến 1128 đã phải giải quyết những bất ổn về nội trị và chống trả những cuộc xâm lược của Chiêm Thành do Harivarman IV thân chinh.

Sau mỗi chiến thắng “phá Tống bình Chiêm” vang dội dưới thời Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, cả hai đế quốc Chân Lạp và Chiêm Thành đã phải nối lại bang giao hoà hiếu với Đại Việt. Đại Việt sử ký toàn thư chép việc Chân Lạp có cử sứ giả sang Đại Việt vào những năm 1012, 1014, 1020, 1025, 1026, 1039, 1056, 1077, 1089, 1120, 1123. Thời kỳ này, chỉ một lần ngoại giao giữa Đại Việt và Chân Lạp có xấu đi khi đế quốc Chân Lạp liên minh với Tống trong cuộc xâm lược năm 1076, trên danh nghĩa chứ không thực sự tham chiến. Sau đó Harshavarman III tử nạn khi vua Harivarman IV của Chiêm Thành thân chinh đánh phá Angkor vào 1080. Sau cái chết của Harshavarman III là thời kỳ trị vì của Jayavarman VI (1080 - 1107) và Dharanindravarman I (1107 – 1113), nói chung hai ông vua này không có gì nổi bật.

Bản đồ đế quốc Chân Lạp vào thời Suryavarman II (G.W)

Năm 1113, người cháu trai của Dharanindravarman I làm cuộc đảo chính dân sự, giết chú để cướp ngôi và trở thành vị vua Suryavarman II của đế quốc Chân Lạp. Kể từ khi ông vua đầy tham vọng và hiếu chiến này lên ngôi, tình hình Đông Nam Á đầy biến động, luôn xảy ra xây dựng lớn mà tàn phá cũng lớn. Giữa Đại Việt và đế quốc Chân Lạp không còn hoà hiếu như xưa.

Chân Lạp tiếp tục xâm chiếm

Dưới triều đại Suyrayavarman II, ngôi đền lớn nhất là Angkor Wat (nơi thờ thần Vishnu) đã được xây dựng ở kinh đô trong khoảng thời gian 37 năm. Vương quốc Haripunjaya của dân tộc Môn (nay là miền Trung Thái Lan) bị Suyrayavarman II thôn tính. Một khu vực xa hơn về phía tây thuộc vương quốc Pagan (nay là Myanmar) cũng bị Suyrayavarman II xâm chiếm và nhập vào đồ bản của đế quốc Chân Lạp.

Phía nam, Suyrayavarman II cũng lấn đến vương quốc Grahi (nay là tỉnh Nakhon Si Tham marat của Thái Lan) thuộc khu vực bán đảo Malay. Về phía đông, nhiều vùng của Chiêm Thành cũng bị sáp nhập vào đế quốc Chân Lạp. Về phía bắc, các vùng đất song song với Đại Việt kéo đến biên giới Lào-Trung Quốc ngày nay cũng bị Suyrayavarman II thôn tính. Như thế vào thời Suyrayavarman II đế quốc Chân Lạp áp sát hoàn toàn biên giới phía tây Đại Việt và có lãnh thổ với diện tích lớn gấp 10 lần Đại Việt.

Vào năm 1080, sau khi hoà hoãn với Đại Việt, vua Harivarman IV của Chiêm Thành đã xua quân đánh đế quốc Chân Lạp, chiếm Sambor (phía bắc Phnom Penh và phía đông Biển Hồ Tonle Sap), giết vua Harshavarman III, tàn phá kinh thành Somesvara (Angkor), bắt nhiều người Chân Lạp làm tù binh. Năm 1145, vua Suryavarman II của Chân Lạp phục thù, đánh Chiêm Thành chiếm Đồ Bàn, tàn phá khu thánh địa Mỹ Sơn. Mãi đến năm 1149 vua Chiêm mới đuổi được quân xâm lược.

Năm 1128, Suyrayavarman II hoà hoãn với Harivarman V của Chiêm Thành để dồn sức tấn công Đại Việt sau khi vua Lý Nhân Tông băng hà ngày 4 tháng chạp năm Đinh Mùi [1127] tại điện Vĩnh Quang. Ngày 8 tháng chạp, thái tử Lý Dương Hoán lên ngôi trước linh cữu quàn ở điện Hồ Thiên. Còn chưa kịp táng tiên đế, chưa đầy hai tháng quốc tang thì Suyrayavarman II đã cử 2 vạn quân tướng sang xâm lược Đại Việt từ ngày 29 tháng giêng Mậu Thân [1128].

Phù điêu đá ở Angkor: vua Chân Lạp ra trận (G.W)

Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Mậu Thân, Thiên Thuận năm thứ 1 [1128]. Mùa xuân, tháng giêng… Ngày Giáp Dần, hơn hai vạn người Chân Lạp vào cướp bến Ba Đầu ở châu Nghệ An. Xuống chiếu cho Nhập nội thái phó Lý Công Bình đem các quan chức đô cùng người châu Nghệ An đi đánh”. Quân Chân Lạp đông như thế với sự thân chinh của một hoàng đế kiệt hiệt như Suyrayavarman II, đã từng thôn tính nhiều vương quốc, rõ ràng đây là một cuộc xâm lược đích thực, không dừng lại ở mức cướp bóc!

Vua Lý Nhân Tông đã tiên liệu khi để lại di chiếu, có đoạn dặn dò: “…Mà thái tử Dương Hoán tuổi đã tròn một kỷ [12 tuổi], có nhiều đại độ, thông minh thành thật, trung nghiêm kính cẩn, có thể theo phép cũ của trẫm mà lên ngôi hoàng đế. Nay kẻ ấu thơ chịu mệnh trời, nối thân ta truyền nghiệp của ta, làm cho rộng lớn thêm công nghiệp đời trước. Nhưng cũng phải nhờ quan dân các ngươi một lòng giúp rập mới được. Này Bá Ngọc, ngươi có khí lượng của người già cả, nên sửa sang giáo mác, để phòng việc không ngờ, chớ làm sai mệnh, trẫm dù nhắm mắt cũng không di hận. Việc tang thì chỉ 3 ngày bỏ áo trở, nên thôi thương khóc; việc chôn thì nên theo Hán Văn Đế, cốt phải kiệm ước, không xây lăng mộ riêng, nên để ta hầu bên cạnh tiên đế…” (sdd, tr.296). “Việc không ngờ” đâu chỉ “biến động giành ngôi của các thân vương” mà còn nạn ngoại xâm của các lân bang nữa. Ngày Quí Hợi tháng hai, tướng Lý Công Bình đã đánh bại quân xâm lược Chân Lạp ở bến Ba Đầu, bắt được chủ tướng và quân lính. Ngày Đinh Mão, tháng 2, khi các quan dâng biểu mừng vua lên ngôi thì cũng là ngày nhận thư báo thắng trận của Lý Công Bình gửi về kinh sư. Tháng 3, Lý Công Bình đem binh về kinh sư, dâng tù 169 người.

Bị thua đau vào cuối tháng giêng, chỉ hơn nửa năm, vào tháng 8, hoàng đế Suryavarman II lại lệnh cho một đạo quân lớn gồm 700 thuyền chiến lại đánh phá ở hương Đỗ Gia thuộc châu Nghệ An (nay thuộc Hà Tĩnh). Hoàng đế Lý Thần Tông xuống chiếu sai tướng Nguyễn Hà Viêm ở Thanh Hoá, tướng Dương Ổ ở châu Nghệ An đem quân đánh và phá được giặc. Suryavarman II lại gửi hoàng đế Lý Thần Tông một phong quốc thư, yêu cầu Đại Việt cử sứ giả sang Chân Lạp. Vua Đại Việt không thèm trả lời.

Năm Nhâm Tý, niên hiệu Thiên Thuận thứ 5 [1132], Suryavarman II của Chân Lạp cử tướng hội quân cùng với Chiêm Thành lại đánh châu Nghệ An. Hoàng đế Lý Thần Tông xuống chiếu sai Thái úy Dương Anh Nhĩ huy động quân binh ở phủ Thanh Hoá và châu Nghệ An chống trả mạnh mẽ, kết quả phá tan quân xâm lược.

Năm Ất Mão, Thiên Chương Bảo Tự thứ 3 [1135], không xâm lược được Đại Việt nên Chân Lạp và Chiêm Thành đều chuyển qua hoà hoãn, cử sứ giả sang Đại Việt. Chỉ hai năm sau, vào năm Đinh Tỵ [1137], Suryavarman II, chưa nguôi hận, lại sai tướng Phá Tô Lăng đưa quân đánh phá châu Nghệ An. Sử Việt không ghi chép số lượng quân Chân Lạp, nhưng có thể đoán định quân xâm lược là đông đáng kể, vì hoàng đế Lý Thần Tông phải xuống chiếu sai Thái úy Lý Công Bình đem quân đi đánh. Chỉ một tháng sau, vừa địch hoạ lại gặp động đất khiến “nước sông đỏ như máu”, nhưng Thái úy Lý Công Bình một lần nữa cũng đánh tan được quân giặc.

Thế kỷ thứ 12, Chiêm Thành vào thời vua Jaya Indravarman V [1086-1139] đã liên minh với Chân Lạp để gây chiến tranh chống lại với Ðại Việt. Sau những lần xâm lược Đại Việt không thành công, Suryavarman II của đế quốc Chân Lạp quay ra nghi ngờ Chiêm Thành (dưới triều vua Jaya Indravarman III [1139-1145] đang
liên minh với Ðại Việt), quyết định tuyên chiến với Chiêm vào năm 1145. Quân đội viễn chinh của đế quốc Chân Lạp xâm lược Chiêm, chiếm thành Ðồ Bàn, vua Jaya Indravarman III mất tích, và Suryavarman II đặt quyền cai trị ở lãnh thổ miền bắc Chiêm Thành. Trước tình hình nguy ngập này, vua Jaya Indravarman VI [1139-1147], thủ lĩnh một tiểu vương quốc Panduranga, quyết định nổi dậy chống cuộc xâm lăng của đế quốc Chân Lạp. Vua Jaya Harivarman VI [1147-1163] kế tục nghiệp kháng chiến và hoàn toàn thắng lợi năm 1149, giải phóng thủ đô Đồ Bàn và đưa Chiêm Thành thoát khỏi ách thống trị của đế quốc Chân Lạp.

Sơ đồ đường rút lui khỏi Chiêm Thành và xâm lấn Đại Việt của đoàn quân do Suyrayavarman II chỉ huy năm 1150

Trong khoảng thời gian từ 1145 đến 1149, đế quốc Chân Lạp đã cai trị miền bắc Chiêm Thành và như thế đế quốc này tiếp giáp Đại Việt cả ở phía nam. Suryavarman II phải đối phó với cuộc kháng chiến mạnh mẽ của hai đời vua ở nam Chiêm Thành nên tạm hoà hoãn với Đại Việt. Năm 1149 thất bại ở Chiêm, vua Suryavarman II lại thân chinh đánh Đại Việt vào năm 115O. Lúc bấy giờ vua Lý Anh Tông chỉ mới 10 tuổi, nhưng các quan văn võ vẫn có người giỏi phò tá, trong đó có thái phó Tô Hiến Thành là người từng dẹp được giặc Thân Lợi [1141], Thái sư Mậu Du Đô từng được lệnh vua lo tuần phòng biên giới… Nói chung việc canh phòng của Đại Việt rất cẩn mật. Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Canh Ngọ [1450], Đại Định năm thứ 11… Mùa xuân, tháng 3, hạn. Mùa thu, tháng 7, hạn. Tháng 9, người Chân Lạp cướp châu Nghệ An, đến núi Vụ Thấp gặp nắng nóng ẩm thấp, phần nhiều chết vì lam chướng bèn tự tan vỡ” (sđd, tr.318).

Các nhà sử học khi nghiên cứu văn khắc trên bia đá ở Angkor Wat, thừa nhận Suryavarman II từng xâm lược Chiêm, Đại Việt trong khoảng từ 1145 đến 1150. Năm 1149 bị vua Chiêm anh hùng Jaya Harivarman IV từ phía nam đánh tới, quân Chân Lạp lui dần về phía bắc. Có khả năng, vào năm 1150, cuộc tháo lui của quân Chân Lạp ở thế thua đối với quân quật khởi Chiêm Thành, lại trở thành chiến dịch xâm lược Đại Việt. Quân Chân Lạp lúc này vẫn còn do Suryavarman II chỉ huy, không những dùng thủy binh mà còn dùng tượng binh, bộ binh. Nhưng trong trạng huống không gặp “thiên thời” (hạn hán kéo dài từ xuân đến thu), “địa lợi” (Chiêm Thành đang hừng hực kháng chiến, Đại Việt lo phòng vệ cẩn mật), “nhân hoà” (cả người Chiêm và người Đại Việt đều oán hận đế quốc Chân Lạp), đoàn quân xâm lược của Suryavarman II đã có một kết thúc bi thảm ở núi Vụ Thấp, còn gọi núi Vụ Ôn, tức núi Vụ Quang ở huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Có khả năng Suryavarman II và phần nhiều binh lính của ông vua hiếu chiến này đã chết thảm vì lam chướng ở tử địa Vụ Quang, quân Chân Lạp còn lại như rắn mất đầu và chỉ là số ít nên tự tan vỡ. Angkor Wat hoành tráng đầy kiêu hãnh do Suryavarman II khai sinh, nhưng cũng là nổi đau của linh hồn Suryavarman II đang vất vưỡng đâu đó trong mây núi Vụ Quang, bởi không có một phiến đá nào ở Angkor Wat ghi lại ngày tháng năm tử trận của vị hoàng đế đầy tham vọng...

Theo Trần Viết Điền (vietsciences)