Menu
Mục lục

Trang nhà > Lịch sử > Trung đại > Saigon - Chợ Lớn từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19 (3)

Saigon - Chợ Lớn từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19 (3)

Thứ Ba 16, Tháng Mười Một 2010

5. Saigon qua nhận xét của bác sĩ George Finlayson (1821)

Sau John White không lâu, năm 1821 John Crawfurd được toàn quyền Anh ở Ấn độ cử là sứ giả đến Siam và Cochinchina (đàng trong), ông đã tường thuật chi tiết những gì ông hoạt động và chứng kiến ở Saigon và Đàng Trong trong năm 1823. Ông cũng gặp một số nhân vật mà John White trước đó đã tiếp xúc, như tổng trấn, Antonio (thông dịch viên)… ông cho biết những sản vật mà Nam Kỳ sản xuất, lương của lính là một quan một tháng,… Tuy nhiên vì đây là bản tường trình chính thức nên những chi tiết về đời sống xã hội ở Saigon không có được chi tiết, cho ta nhiều thông tin như là những gì ghi chép của bác sĩ và nhà thiên nhiên học đi cùng với ông John Crawfurd là bác sĩ và nhà thiên nhiên học George Finlayson.

Bác sĩ Finlayson đã viết hồi ký về chuyến đi và sau khi ông mất trên đường trở về Anh, quyển hồi ký được lưu lại trong viện bảo tàng của công ty Đông Ấn cho đến khi được in và xuất bản vào năm 1826 (21).

Một đoạn Finlayson mô tả là sau khi đoàn của ông được đón tiếp từ trên tàu đậu ở Cần Giờ xuống ghe vào Saigon, và được cho ở trong một nhà có lính canh chung quanh. Ông có gặp và tiếp một nhà thiên nhiên học người Pháp tên là M. Diard, đã sống ở đây hơn 1 năm, ăn mặc như người Việt . Sau đó ngày 30/8/1821, ông đã tự đi ra ngoài sau khi được lính canh cho phép ông và người hoạ sĩ trên tàu được ra. Ông quan sát ở khu chợ ở Bến Nghé như sau:

“Những sản phẩm mà người bản xứ dùng đều có rất nhiều ở mọi cửa hàng. Có lẽ không có nước nào sản xuất nhiều trầu hay cau như nơi này. Lá trầu ít dồi dào hơn; cá khô và tươi; gạo, khoai lang chất lượng rất tốt; ngô bắp Ấn độ (Indian corn), măng (tre) đã được nấu chín; hạt lúa đã nảy mầm, đường thô, chuối lá, cam, bưởi, mãng cầu, lựu, và thuốc lá, có rất nhiều. Heo được bán ở tất cả các cửa tiệm, và gà trong tình trạng tốt đều bán rất rẻ. Thịt cá sấu [1] rất được chuộng, và người thông ngôn Hoa kiều của chúng tôi nói rằng ở đây cũng có bán thịt chó.

Các cửa tiệm rộng đủ thuận tiện, trong đó các hàng được trưng bày thuận lợi nhất. Một trường hợp không thể bỏ qua, vì nó cho thấy một sự khác nhau rõ ràng về thị hiếu và phong tục của dân ở đây với các dân ở các nước ở Ấn độ. Ở những nước này, trong rất nhiều trường hợp, sản phẩm chế tạo của Âu châu tràn lấn sản phẩm bản xứ; và anh khó có thể kêu một tên sản phẩm Âu nào mà không tìm thấy ở các cửa tiệm. Ở đây trái lại, trừ duy nhất ba hay bốn thùng chai với thủy tinh thô, không có một sản phẩm nào tìm thấy được mà giống chút ít gì sản phẩm Âu châu. Một tiêu chuẩn thị hiếu khác thống lãnh ở đây. Vải bông rất hiếm. Vải kếp đen, satin và lụa duy nhất là được dùng; đa số là được sản xuất từ Trung quốc và Bắc kỳ (Tonkin), ở đây hầu như rất ít hay không có kỹ nghệ chế tạo nào.

Những sản phẩm mà họ làm không có nhiều. Tôi có thể liệt ra vài thứ như sau: các loại chiếu đẹp và thô, đan để làm buồm cho tàu và ghe, các giỏ thô, các hộp mạ vàng và đánh bóng vạt ni, dù, các túi lụa đẹp, chúng được dùng phổ thông mà cả đàn ông và đàn bà đều mang theo mình; đinh sắt, và một loại kéo thô sơ. Tất cả những thứ khác đều được nhập từ các xứ sở chung quanh. Để đổi lại các hàng nhập, xứ của họ có gạo rất nhiều, bột gia vị bạch đậu khấu, tiêu, đường, ngà voi, trầu, etc… Ở đây có một vài người Hoa giàu có, họ buôn bán trãi rộng khắp nơi trong khu vực này; còn lại đa số là rất nghèo, chỉ một số ít có điều kiện buôn bán nhưng trong một giới hạn rất nhỏ. Rất ít các tiệm trong phố buôn bán chứa đựng những hàng có giá trị hơn giá tiền mua bốn chục hoặc sáu chục đô la, và đa số hàng không có giá bằng nửa số tiền trên.

Khó có thể tưởng tượng là một dân số lớn lao như vậy, sống chung và hiện hữu trong hình thái này mà doanh thương lại quá nhỏ bé: thật ra có hai thành phố ở đây, mỗi thành phố lớn bằng như là thủ đô của Xiêm La (Siam). Một thành phố xây dựng gần mới đây gọi là Binghe; và thành phố kia ở cách đó khoảng một hay hai dặm, gọi là Saigon. Thành phố đầu ở cạnh một thành, được xây dựng các năm gần đây, dựa trên nguyên lý thành quách của Âu châu. Nó được dựng trên đồi có dốc là, có hào nước và tường thành cao, nhìn xuống chung quanh vùng. Thành có hình vuông, mỗi cạnh dài khoảng nửa dặm. Thành chưa hoàn tất xây xong, không có ô cửa lỗ châu mai, và cũng không có các khẩu đại bác trên tường thành. Đường ngoành vòng quanh lên thành rất ngắn, và lối đi vào cổng thành thẳng tắp; các cửa thành được làm rất đẹp và trang trí theo kiểu Trung Hoa. Chúng tôi không lấy được thông tin gì về dân số của hai thành phố này. …“

Finlayson nói rõ có hai thành phố cách nhau khoảng một hay hai dặm: Binghe (Bến Nghé) vừa mới thành lập và Saigon (tức Chợ Lớn ngày nay) lớn hơn và đã thành lập trước lâu. Như vậy Saigon là tên của thành phố Chợ Lớn ngày nay. Và nguồn gốc của từ “Saigon” chắc là bắt nguồn từ vùng Chợ Lớn. Gia Định thành thông chí cũng như Đại nam nhất thống chí cũng có nói: "Chợ Sài Gòn cách phía nam trấn (tức thành Bát quái) 12 dặm". John Crawfurd cũng viết: "Thành phố Saigun gồm hai thị tứ tách biệt nhau, cách nhau 3 dặm. Pingeh (bến nghé) là lỵ sở cai trị và thành trì, nằm ở phía tây bờ sông lớn, còn Saigun đích thực thì nằm cạnh sông nhỏ thông liền với Pingeh" (19).

Finlayson đã tả một buổi viếng thăm Saigon (tức Chợ Lớn ngày nay) như sau:

“Ngày 1 tháng 9 - Dường như là vị tổng trấn Saigon không có gì phủ nhận về đề tài của các giấy tờ đã đưa trình lên hôm qua; một viên quan hôm nay trở lại để lấy các bản sao, nói rằng các giấy tờ đã trình lúc ban đầu đã được gởi ngay lập tức đến triều đình. Ngay sau khi các bản sao đã được đưa cho viên quan, chúng tôi đi lên tàu với ông Diard để viếng Saigon. Khoảng cách của thành phố này khoảng 3 dặm cách thành. Nhưng trên đường đến thành phố phần lớn có nhiều nhà dọc theo hai bờ sông. Có ít ghe và các tàu đi biển là do ở cuối mùa. Số lượng tàu đi qua đi lại tuy vậy rất đáng kể. Vùng đất chung quanh đây cho thấy rất là màu mỡ; các bờ sông rạch được che phủ bởi các cây cau và cây dừa, chuối, mít và những cây ăn trái khác. Rất nhiều các con rạch đi lại đan xéo cắt ngang vùng đất này ở đủ mọi hướng, tạo ra mọi phương tiện để gia tăng kỹ nghệ thương mại.

Ở đây, cũng giống như ở Xiêm La, các nghề và việc cực nhọc đều do đàn bà làm, và các ghe tàu trên sông thông thường là do những người đàn bà chèo lái. Một thông lệ, không được "ga lăng" cũng như bất công, được áp dụng thường thấy ở đây cũng như ở Xiêm La, là chỉ bắt đàn bà trả tiền khi đò ghe chở khách qua sông rạch còn đàn ông đưa qua thì không tốn tiền. Lý do biện hộ cho thông lệ này là đàn ông tất cả đều được tuyển dụng làm dịch vụ cho nhà vua. Rất là đáng tiếc, khi thấy rằng một số rất lớn đàn ông ở nước này được xử dụng trong những nghề hoàn toàn không giúp ích, sản xuất gì cho xứ sở, mà còn gây thiệt hại cho kỹ nghệ quốc gia. Tất cả mọi viên quan dù nhỏ bé cũng đều có nhiều người hầu hạ.

Thành phố Saigon được xây trên một nhánh đáng kể của con sông lớn và trên các bờ của hằng hà các kênh rạch. Nó là trung tâm thương mại của tỉnh màu mỡ này. Thành phố Bingeh (Bến Nghé), trong khi đó ít bận tâm theo đuổi mục đích thương mại này. Một vài di dân từ Trung Hoa buôn bán lớn ở một mức độ qui mô vượt bực rất đáng kể, nhưng còn người đàng Trong (Cochin China, chỉ người Việt) thì đa phần là quá nghèo để có thể tham gia vào những nghề nghiệp như vậy.

Chúng tôi đáp tàu xuống khoảng ở giữa thành phố, và sau khi đi một khoảng ngắn, chúng tôi vào nhà một người Trung Hoa. Ông ta tiếp đón chúng tôi rất lịch sự và mời chúng tôi cùng dùng giải khát. Ông ta nói là ông ta rất mong mỏi muốn thông thương với người Anh, và hiện trong tay ông có nhiều hàng rất hợp thuận cho thương mại này.

Chúng tôi bỏ ra vài tiếng để viếng thăm nhiều khu khác nhau của thành phố, và trở về chỗ chúng tôi trú ngụ vào lúc chiều tối rất là hài lòng với những gì chúng tôi đã chứng kiến, và với ấn tượng tốt nhất về tư cách đối xử và tâm tính của người dân ở đó.

Sự tân tâm, tử tế và hiếu khách mà chúng tôi kinh nghiệm nhận được, cho đến nay vượt quá những gì chúng tôi đã chứng kiến ở các nước Á châu, đến nỗi chúng tôi không thể tin và mơ tưởng rằng chúng tôi đang ở giữa những người dân hoàn toàn có một tính tình khác. Chúng tôi là những người hoàn toàn lạ, chỉ trãi qua vài tiếng đến thành phố này vậy mà hầu như ở mọi đường phố chúng tôi được mời bởi nhiều người Hoa giàu có vào thăm nhà, và dùng giải khát. Họ không thể biết trước được là chúng tôi đến thăm thành phố này, vậy mà một vài chiêu đãi giải trí mà chúng tôi nhận được rất là thanh lịch và phong phú dư dật, nói lên sự giàu có và lòng hiếu khách của chủ nhà mời chúng tôi.

Trong số họ, chúng tôi được mời bởi ba anh em người Hoa đã đến lập nghiệp ở xứ này từ lâu. Họ mặc đồ người Đàng Trong, và trông không khác gì người bản xứ. Phong cách của họ rất là hấp dẫn lôi kéo, hoàn toàn dễ dãi và lịch sự; nhà của họ rất đẹp và rộng rãi; không có đồ gì làm ra vẽ đây là một biệt thự cao cấp, ngay cả trong ý kiến của một người Âu. Họ tiếp chúng tôi trong một phòng khách lớn được trang bị đầy đủ đồ đạc; một bàn ngay sau đó được phủ đầy các loại trái cây, các loại mứt kẹo thanh nhã nhất, và nhiều loại bánh và thạch. Tự họ khẩn khoản mời chúng tôi ngồi xuống bàn và lo cho chúng tôi, và dù làm cách nào họ cũng không ngồi xuống cùng bàn khi chúng tôi hiện diện trong nhà họ. Trà được dọn mời trong những tách nhỏ; một bàn lớn cũng được trãi ra cho những tùy tùng của chúng tôi với rất nhiều bánh, mứt,
kẹo. Chủ nhà của chúng tôi nói rất ít; họ có vẽ rất hài lòng chúng tôi đến viếng, cũng như chúng tôi với sự tiếp đãi ân cần độ lượng của họ cho chúng tôi.

Hãy để những người khác nói về mục đích gì mà sự hiếu khách và quan tâm quá mức của những người Hoa thông minh và có đầu óc cấp tiến này cho những người thật xa lạ; về phần tôi, tôi phải công tâm bảo vệ thật đúng cho họ và tin là họ hoàn toàn vô vụ lợi.

Các hàng chợ ở Saigon chứa nhiều hơn tất cả các thứ hàng ở Bingeh (Bến Nghé). Các nhiễu, kếp đen (crape) Trung Hoa và Bắc Hà (Tonkin), lụa, satin, quạt Trung Hoa, đồ gốm etc..là những loại thường có trong các tiệm. Đường phố thẳng, rộng và tiện lợi. Dân số rất đông. Chúng tôi vào thăm một đền Trung Hoa rất đẹp, xây rất mỹ thuật, và có rất nhiều trang trí. Những đền của người Đàng Trọng, mặc dầu có vẽ thờ giống nhau, nhưng bề ngoài kém hơn không bằng đền Trung Hoa...“

Qua Finlayson và Purefoy ta thấy ở cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, thành phố Chợ Lớn là trung tâm thương mại rất trù phú ở Nam kỳ với các trạm thương mại của người Bồ Đào Nha đặt ở đó, các tàu nước ngoài đến mua bán và người Hoa đã có hệ thống doanh thương rộng lớn khắp trong vùng. Sản phẩm chính là gạo, tiêu, đường, cá khô, ngà voi, sừng tê giác. Trần Văn Giàu (19) khi trích một đoạn rất ngắn về sự tận tâm hiếu khách của những người Hoa mà Finlayson đã tả như trên để tổng quát là con người Saigon tử tế và lịch thiệp thì e không đúng lắm vì thật ra Finlayson nói về con người ở khu Chợ Lớn ngày nay.

Finlayson có tả về hình thái của người Việt ở Saigon mà Charles Darwin đã viết như sau trong quyển “The Descent of Man: and selection in relation to sex” (23):

“Finlayson, sau khi mô tả chi tiết người ở Nam kỳ (Cochinchina), nói rằng đầu và mặt tròn của họ là đặc tính chính; và ông thêm là ‘dáng người tròn của họ nổi bật ở phụ nữ, được coi là đẹp cân xứng trên khuôn mặt của họ’. Người Xiêm La có mũi nhỏ với hai lỗ mũi chìa ra, miệng rộng, môi hơi dầy, khuôn mặt thật lớn, với xương má cao và rộng. Vì thế không có gì ngạc nhiên kỳ thú là ‘cái đẹp, dưới quan điểm của chúng ta, là rất lạ lùng với họ. Họ coi là phụ nữ của họ đẹp hơn hẳn các phụ nữ Âu châu.”

Nói về thành Saigon, Finlayson cho biết thêm về cuộc gặp gỡ trong Thành của sứ bộ Crawfurd (do Toàn quyền Anh ở Ấn Độ gởi đến Xiêm và Đàng Trong để giao thương) với tổng trấn Lê Văn Duyệt sau khi Crawfurd được tổng trấn mời đến Saigon từ tàu của sứ bộ đang đậu ở Cần Giờ trên đường đi Đà Nẵng, và sau đó chứng kiến cuộc đấu ngoạn mục giữa cọp và voi ở Saigon như sau:

“Ngày 2 tháng 9 – Chúng tôi được thông báo là ngài tổng trấn sẽ cho tiếp sứ giả của Toàn Quyền Ấn Độ sang sớm hôm nay. Lúc 10 giờ, viên quan, người đã đưa chúng tôi từ tàu trước đây, đến nói là Tổng Trấn đang chờ chúng tôi. Sau khi chúng tôi hỏi được dùng phương tiện nào để đến thành, ông ta nói rằng chúng tôi phải đi bộ đến thành. Sau khi chúng tôi không đồng ý, năm con voi được rước đến. Các con voi này đều có ghế (haudah) ngồi trên lưng voi, như những ghế mà người dân ở Ấn Độ dùng. Một vài phút chở chúng tôi vào thành nơi ngài Tổng Trấn cư ngụ. Nhà của ông, mặc dù lớn, nhưng giản dị không có nhiều trang trí ở phía trong và phía ngoài. Dinh này toạ lạc hầu như ở giữa trung tâm thành giữa khoảng trống rộng. Khi chúng tôi đến trong khoảng năm mươi thước Anh (yard) trước cửa dinh, chúng tôi được thông báo xuống voi và đi bộ phần còn lại. Một đám binh sĩ, đa số cầm giáo, đứng hai bên sân. Ngài Tổng Trấn, chung quanh là các quan, ngồi ở trong điện lớn nhìn ra phía sân. Chúng tôi đi tiến lên, trực tiếp trước ông, lấy nón ra và chào ông như phong tục của nước chúng tôi. Ghế đã được sửa soạn sẵn, và chúng tôi ngồi xuống phía trước một chút, ở phía phải các vị quan. Ở phía sau của điện là viên Tổng Trấn ngồi trên một bục cao không có trang trí, rộng khoảng mười hai phút (foot) vuông có chiếu phủ ở trên, và bên trên chiếu có một hay hai nệm. Ở bục thấp hơn, phía bên trái ông, và một chút về phía trước là ông Phó Tổng Trấn ngồi, một ông già dễ nhìn, có vẽ đã hơn bảy mươi tuổi. Trực tiếp đối diện với ông phó Tổng trấn là khoảng một chục viên quan, mặc áo đóng đen, ngồi xếp chân kiểu Ấn, trên một bục giống như bục đối diện, và phía sau có các người hầu cầm vũ khí đứng tụ lại một chỗ. Trước mặt ngài Tổng Trấn, có hai người Xiêm, đã đến trước có việc riêng, đang nằm phủ phục ở dưới đất, theo phong cách mà họ theo khi tiếp kiến thủ lãnh của họ.

Ngài Tổng Trấn được biết là một hoạn quan, và hình dạng của ông đúng một mức nào đó với ý niệm trên. Ông ta có vẻ khoảng năm mươi tuổi, dáng thông minh, và có lẽ được kính trọng là có hoạt động trí tuệ và thể lực dồi dào; gương mặt của ông tròn và mịn, hình thể nhão và nhăn; ông ta không có râu, và có dạng giống một bà già: giọng nói của ông, cũng vậy, the thé và nữ tính; nhưng điều này tôi cũng quan sát thấy, mặc dầu mức độ ít hơn, ở những người đàn ông ở nước này. Y phục của ông, không những trơn tru không màu mè, hầu như nhớp nhúa, trông giống như đồ dơ của những người nghèo nhất.

Ông ta đã đòi hỏi là lá thư của Toàn Quyền Bengal phải được chúng tôi mang đến khi diện kiến. Trông thấy lá thư ấy ở trong tay tôi, ông hỏi tôi đang cầm gì; và sau khi đã xem xét mảnh vải vàng đựng bức thư, ông ta trả lại và cùng lúc nói rằng sau khi đã làm cóp-pi bản chính, theo như thông luật của xứ này, là không được mở ra nữa.

Bây giờ ông ta mới tìm hiểu hỏi chúng tôi là đã bao lâu từ khi chúng tôi rời Calcutta đến nay và tuổi của chúng tôi. Ông cho rằng thường thì chỉ có vua mới viết thư gửi cho vua khác, “Vậy thì tại sao”, ông ta nói, “Toàn quyền Bengal lại có thể gửi thư cho vua Đàng Trong ?”. Ông ta có vẽ hiểu các mục đích của chuyến đi chúng tôi, và có nhận xét thuận lợi về các mục đích này. “Tất cả các tàu”, ông cho rằng, “đều được thông thương buôn bán với Đàng Trong. Nếu”, ông nói tiếp, “thần dân của vua Đàng Trong đến Bengal hay bất cứ lập địa nào của Anh, thì rất đúng khi ở đó họ phải theo luật của nơi đó và xử theo luật. Cũng như vậy, thần dân của những nước khác đến Đàng Trong phải theo và được xử theo luật hiện hành của nước đó. Nếu không thì sẽ không có sự công bình thực sự. Ông hỏi chúng tôi là sẽ đi thẳng đến Turon (Đà Nẵng), hay là cảng ở Huế, và với tư cách gì sứ bộ của Toàn Quyền muốn theo đuổi khi đến nơi ấy. Chúng tôi nói với ông là bản tường trình về việc chúng tôi đến nên được gởi ngay đến triều đình khi chúng đến cảng. Khi nghe xong, ông cho ý kiến là vị quan coi về voi (mandarin of the elephants) là vị có nhiệm vụ về vấn đề này và sẽ cho biết tất cả những thông tin cần thiết về vấn đề thương mại.

Tôi đã diễn tả như trên, dùng những từ tổng quát về nội dung và phạm vi của cuộc đối thoại đã diễn ra. Các viên quan có vẻ như rất thoải mái dưới sự hiện diện của ngài Tổng Trấn, không có lộ vẻ gì sợ hay kinh sợ. Họ thường đặt câu hỏi với chúng tôi trong buổi phỏng vấn này. Cuộc đối thoại diễn ra dùng tiếng Bồ Đao Nha là phương tiện diễn đạt, qua một người bản xứ tên là Antonio.

Gần cuối của cuộc đàm thoại, ông Diard đi vào, ông mặc một bồ đồ kiểu quan lại, và ngồi xuống ghế cạnh chúng tôi. Chúng tôi được mời uống trà, như thông lệ.

Ở trước điện là một cái chuồng nhốt trong đó một con cọp rất lớn, mà ngài Tổng trấn đã ra lệnh bắt để ngài có thể triển lãm cho chúng tôi thấy một cuộc giao đấu giữa con vật hung dữ nhất trong các loài vật, với một con voi. Chúng tôi được hỏi là liệu cảnh tượng của cuộc đấu voi và cọp này có hợp với chúng tôi không, sau khi nhận được trả lời là đồng ý, ngài Tổng trấn ra chỉ thị sửa soạn bắt đầu cuộc đấu voi-cọp. Ở ngay giữa một đồng cỏ dài khoảng nữa dặm, và chiều ngang cũng có khoảng cách dài như vậy, có chừng khoảng sáu chục hay bảy chục con voi rất đẹp mắt, đứng xếp theo vài hàng, mỗi con voi có một quản tượng ngồi trên đầu điều khiển và một ghế trống trên lưng voi.

Ở một bên khán đài có các ghế ngồi được xếp đặt thuận lợi; tổng trấn, các quan và nhiều binh lính đều có mặt xem cảnh đấu voi-cọp này. Ở phía bên kia là đám đông khán giả. Con cọp được cột vào một cây cột đặt giữa cánh đồng, bằng một sợi dây chắc nịch buộc chung quanh lưng của nó. Chẳng bao lâu chúng tôi nhận thấy cuộc đấu này rất không cân bằng; các móng vuốt của con vật tội nghiệp này đã bị rút ra và hai môi của nó đã bị khâu lại bằng chỉ chắc, không cho nó mở miệng ra được. Khi được thả ra khỏi chuồng, nó cố gắng nhảy qua cánh đồng nhưng khi biết mọi cố gắng tự giải thoát đều vô ích, nó nằm dài xuống cỏ, và khi thấy con voi lớn với ngà dài tiến đến, nó đứng dậy và đối diện với hiểm nguy đang tới.

Con voi thấy thái độ của con cọp và nghe tiếng gầm gừ ghê sợ của con cọp, cảm thấy sợ hãi, và quay lại chạy trong khi con cọp đuổi nhanh phía sau, quất vào hông sau của con voi bằng chân trước, làm con voi chạy nhanh thêm. Người quản tượng thành công kéo con voi quay tấn công trở lại trước khi nó chạy quá xa, và lần này con voi giận giữ chạy nhanh lại, chúi hai sừng của nó vào mặt đất dưới con cọp, nâng con cọp lên cao và quăng nó ra xa khoảng ba mươi feet (tức khoảng 9 mét). Tới đây là điểm lý thú của cuộc chiến; con cọp nằm dài dưới đất như là đã chết, nhưng dường như nó không bị suy suyển gì mấy, bởi vì trong lần tấn công kế tiếp nó đứng dậy trong dáng điệu phòng thủ, và khi con voi sửa soạn húc nó lên, nó phóng vào trán con voi, hai chân sau bám chặc vào vòi voi. Con voi bị thương trong cuộc tấn công này, và quá sợ nên không có gì cản nó chạy phá qua các chướng ngại vật, nó chạy biến mất. Người quản tượng coi như là không hoàn thành nhiệm vụ, và chẳng bao lâu sau với hai tay trói buộc sau lưng được mang tới trước mặt Tổng trấn, và ngay tại chỗ bị đánh 100 roi phạt tội.

Một con voi khác được mang ra, nhưng con cọp chống cự yếu dần với mỗi lần tấn công kế nhau. Rõ ràng các lần bị quăng ra xa, chẳng bao lâu sẽ làm nó chết. Tất cả các con voi mang ra đấu đều có ngà, và phương thức tấn công ở mọi lần, của các
con voi kế tiếp nhau, là chạy đến con cọp dùng ngà húc phía dưới rồi nâng lên, và quăng ra xa. Các con voi dĩ nhiên rất cẩn thận với vòi của chúng, cẩn thận cuốn vòi dưới cằm. Khi con cọp hoàn toàn chết, một con voi được mang tới, thay vì nâng con cọp bằng ngà của nó, nó dùng vòi túm con cọp, và quăng con cọp xa ba chục feet.

Cuộc trình diễn tiếp theo hoàn toàn khác. Mục đích của cuộc đấu này là cho thấy khả năng của một hàng voi vững chãi tiến lên và phá phòng tuyến của quân thù.

Hai hàng phòng thủ được thiết lập tại chỗ, và trước mỗi hàng là các cây cọc phía trên được đốt cháy bằng một chất liệu với pháo bông tủa ra đủ loại hình, và một vài khẩu đại bác loại nhỏ. Chỉ trong một chốc tất cả đều cháy sáng chói và lửa pháo bông hay đẹp như vậy được giữ cháy. Các con voi tiến lên thẳng hàng, bước đều và nhanh, nhưng mặc dầu chúng đến gần hàng cột lửa, chỉ có rất ít con bị thúc tiến qua được, còn lại chạy vòng quanh lửa qua lối này hay lối nọ. Tấn công kiểu này được lập lại lần nữa, và sau đó chấm dứt thú vui tiêu khiển.

Ngài tổng trấn lúc này kêu chúng tôi lại chỗ ông ngồi và nói rằng ông ta rất vui lòng nếu chúng tôi ở lại thêm một ngày nữa để tham quan thành phố; và sẽ có một hài kịch được diễn cho chúng tôi xem giải trí. Ông Crawfurd nói những lý do mà chúng tôi muốn lên đường ra đi, và chúng tôi từ giã ông; và biết ơn ông rất nhiều đã tận tình tiếp đã chúng tôi.

Ngày 3 tháng 9 - Các thuyền trước đây chở chúng tôi (từ Cần Giờ vào Saigon) đợi chúng tôi vào sáng sớm. Chúng tôi lên vào lúc 6 giờ sáng và đến tàu lớn của chúng tôi khoảng 5 giờ chiều cùng ngày.

Sáng ngày hôm sau, chúng tôi nhổ neo, và tiếp tục hành trình đến Turon (Đà Nẵng) dưới hướng gió thổi mạnh từ Tây Nam. Trên đường ra khỏi sông, tàu suýt đụng một cồn cát hay bờ cát, không có ghi trên bản đồ...“

Qua những gì Finlayson viết, ta thấy tổng trấn Saigon Lê Văn Duyệt rất là hiếu khách và muốn mở rộng buôn bán với các nước tây phương. Ông hiểu biết rất nhiều về họ. Điều này phù hợp với những gì John White viết về ông. Tuy vậy sứ bộ Crawfurd sau đó thất bại trong mục đích thiết lập đường thương mại với Việt Nam. Khi phái đoàn đi ra Đà Nẵng và Huế, vua Minh Mạng (vừa lên ngôi 1 năm sau khi Gia Long mất) đã từ chối không tiếp sứ bộ Crawfurd, cho rằng sứ bộ Crawfurd không xứng đáng vì Crawfurd chỉ là sứ giả của vị toàn quyền Anh ở Ấn Độ chứ không phải là do vua nước Anh gởi qua. Cuộc đấu giữa cọp và các con voi chắc chắn là xảy ra ở phía ngoài, sát cạnh thành Saigon vì đồng cỏ nơi diễn ra trận đấu có chiều dài và ngang khoảng nửa dặm và thành Saigon cũng lớn bằng cánh đồng cỏ này. Vì thế trận đấu không thể ở trong thành. Khả năng lớn là cánh đồng cỏ này chính là cánh đồng tập trận ở phía tây kế thành Saigon và cạnh cánh đồng mả.

Ta cũng thấy George Finlayson có cảm tưởng tốt đẹp về Saigon và con người ở đó so với John White. Lý do chính là Finlayson nằm trong phái bộ ngoại giao trong khi John White chỉ là thuyền trưởng tàu thương mại Mỹ đến Saigon để buôn bán nên sự tiếp đãi và đối xử có khác nhau. Hơn nữa John White đã sống tại Saigon lâu dài (nhiều tháng) trong khi George Finlayson chỉ viếng có ba ngày nên không thể có kinh nghiệm sống thật sự với tất cả bề mặt và bề trái mà John White đã trải qua.

Sau John Barrow, John White, John Crawfurd và George Finlayson, Trương Vĩnh Ký cho ta biết thêm nhiều chi tiết về các khía cạnh địa phương ở các khu vực trong Saigon. Quyển “Souvenirs historiques sur Saïgon et ses environs” viết bằng tiếng Pháp của ông xuất bản năm 1885 ghi lại phố xá Saigon vào những năm trước khi người Pháp phát triển thành phố này. Vì thế ông so sánh vị trí thành phố, đường xá thời kỳ trước dựa vào các đường đang có ở thời kỳ người Pháp đến thiết lập 25 năm sau khi họ chiếm Saigon-Gia Định (1859). Một thời gian không lâu lắm để có thể hoàn toàn biến dạng bộ mặt thành phố.

Nguyễn Đức Hiệp (Forum)


Xem online : Kỳ trước


[1Cá sấu xưa kia có nhiều ở sông Đồng Nai từ cửa Cần Giờ đến thượng nguồn mà các tác giả Pháp cuối thế kỷ 19 còn ghi nhận. Ngày nay chúng chỉ còn rất ít ở bầu Sấu, trong vườn quốc gia Nam Cát Tiên, thượng nguồn sông Đồng Nai.

Các chú thích đánh số trong ngoặc đơn: Xem ở bài đầu, mục Tham khảo.