Menu

Trang nhà > Lịch sử > Trung đại > Chuyển giao công nghệ quân sự thời nhà Nguyễn (kỳ 2)

Chuyển giao công nghệ quân sự thời nhà Nguyễn (kỳ 2)

Thứ Năm 13, Tháng Chín 2007

Trong những thế kỷ trước đó, cả Đàng Ngoài và Đàng Trong có điểm đáng chú ý là cả hai miền đều không có những đội thuyền buôn. Viết trong thế kỷ 17, Alexandre de Rhodes ghi nhận là người Việt tại Đông Kinh không bao giờ đi buôn ra ngoài địa phận vương quốc, vì nhiều lý do. Đầu tiên, họ không nắm vững nghệ thuật xác định phương hướng trên đại dương và chỉ tham dự các trao đổi dọc bờ biển. Thứ hai, thuyền của họ không đủ chắc để ra biển lớn.

Cuối cùng, nhà cầm quyền không cho phép con dân được ra khỏi vương quốc.

Thủy quân và việc đóng thuyền

Ngoại trừ việc ra biển của các đoàn thuyền nhỏ, chúng ta có ít bằng chứng cho thấy các tàu Việt Nam đến các nước khác. Nếu có thuyền ra ngoài, thì cũng không rõ thuyền đó thuộc về người Hoa hay người Việt. Dù vậy cũng có các thuyền nhỏ đi từ Đàng Trong đến Xiêm trong thế kỷ 17, đưa thương nhân Việt Nam dưới lớp vỏ sứ thần đến triều đình vương quốc Ayudhya. Năm 1682, một cha xứ Pháp và hai thương nhân Anh thuê một tàu đánh cá nhỏ của người Việt và thuê một thủy thủ Bồ Đào Nha chở họ đi từ Đông Kinh đến Ayudhya. Dẫu vậy, việc một chiếc thuyền Việt Nam đến Xiêm được các cha xứ tường thuật như là một sự kiện ngoại lệ.

Hai thực thể Việt Nam – Đông Kinh và Đàng Trong – cùng chung một điểm là cả hai đều không trực tiếp tham dự vào mọi hình thức buôn bán ra ngoài nước: tất cả nhập khẩu các sản phẩm đưa đến các cảng Việt Nam bởi thương nhân nước ngoài trên các tàu nước ngoài. Hàng xuất khẩu được chở đi cùng một cách thức như vậy. Đa số ngoại thương vì thế phụ thuộc vào thiện chí và quyền lợi của các nhân tố nước ngoài, dù là người Hoa hay châu Âu.

Ngược lại, hạm đội quân sự của hai miền lại mạnh cả về kích thước lẫn chất lượng. Việc đánh bại một hạm đội do Công ty Đông Ấn Hà Lan gửi đi chống Đàng Trong năm 1643 là ví dụ thể hiện sức mạnh và tinh thần chiến đấu của hạm đội Việt Nam. Tuy vậy, tất cả các chiến thuyền của Đàng Trong đều là thuyền galê (sàn thấp, chạy bằng buồm và chèo). Các thuyền này tuy hiệu quả khi đánh dọc biển và cửa sông, nhưng không tốt lắm khi đi ra xa hơn.

Tình hình thay đổi hoàn toàn trong cuộc chiến Tây Sơn. Từ 1775 đến 1788, các hạm đội Tây Sơn thường xuyên hướng về nam để cướp lúa tại Gia Đinh và chở chúng về địa phương mình, nơi liên tục thiếu lương thực. Năm nào Tây Sơn cũng làm được như vậy vì hạm đội của họ nhiều hơn hạm đội Nguyễn Ánh. Đến năm 1781, linh mục xứ Adran thuyết phục Nguyễn Ánh thuê đoàn tàu Bồ Đào Nha cùng thủy thủ đoàn và súng. Nhưng kinh nghiệm đầu tiên lại là thảm họa. Vì những lý do chưa rõ ràng, hai trong các thuyền Bồ Đào Nha đã trốn khỏi chiến trường, còn thủy thủ đoàn trên chiếc thứ ba bị những người lính Việt Nam giận dữ giết hết.

Mấy năm sau, tình hình mới sáng sủa hơn cho Nguyễn Ánh. Vị linh mục quay về từ Pháp mang theo một số phương tiện, gồm hai chiếc tàu. Các tàu này mang theo thiết bị quân sự và ở lại Sài Gòn. Đầu tiên, thủy thủ đoàn là người Pháp và Ấn Độ, sau đó thì là người Việt dưới sự dẫn dắt của sĩ quan Pháp. Các con tàu này là nền tảng cho việc xây dựng một hạm đội mạnh. Trong những năm sau đó, Nguyễn Ánh đã mua hoặc thuê thêm tàu châu Âu, và khi chiến tranh gần chấm dứt thì hạm đội của ông đã trưởng thành. Đến năm 1792, hai chiếc tàu châu Âu đã hoạt động cùng hai trăm chiếc khác cùng loại tiến đánh Tây Sơn ở Quy Nhơn. Năm 1801, một sư đoàn trong hải đội của Nguyễn Ánh bao gồm chín tàu châu Âu trang bị 60 súng, 5 tàu lớn với 50 súng, 40 tàu với 16 súng, 100 thuyền mành, 119 thuyền galê và 365 thuyền nhỏ hơn.

Không phải con tàu kiểu châu Âu nào trong số này cũng được mua từ nước ngoài; thực tế, đa số chúng được làm trong một cơ xưởng tại Sài Gòn. Bản thân Nguyễn Ánh coi sóc việc xây dựng, mỗi ngày trải qua hàng giờ trong xưởng. Đến năm 1792, 15 tàu chiến đã hoàn thành, với mô hình nửa Trung Hoa, nửa Tây phương. Việc học hỏi kỹ thuật Tây phương được kể là thông qua một ý tưởng đơn giản: một con tàu cũ của châu Âu được tháo rời từng mảnh, rồi lắp lại để thợ mộc Việt Nam học từng chi tiết. Nguyễn Ánh cũng học nghề mộc. Ông học thêm lý thuyết hàng hải từ các cuốn sách do linh mục xứ Adran dịch lại.

Về con số sĩ quan và thủy thủ Pháp trong hải quân Nguyễn Ánh, trong khoảng từ 1790-1792, không đầy 80 sĩ quan và thủy thủ Pháp có mặt ở Việt Nam, và đa số họ rời khỏi trong năm 1792. Vì thế có thể cho rằng từ 1792 đến 1799, còn rất ít người Pháp tháp tùng trong hạm đội nhà Nguyễn. Điều đó có nghĩa thủy thủ trên các tàu đều là người Việt, được huấn luyện để điều khiển các tàu kiểu châu Âu.

Việc kết hợp các con tàu sử dụng sức gió của châu Âu (với ưu thế về đạn pháo) và các tàu kiểu cổ điển đã cho Nguyễn Ánh lợi thế trước quân Tây Sơn. Trong khoảng năm 1792-1793, hàng trăm tàu Tây Sơn bị chìm hoặc bị cướp trong các cuộc lâm chiến với các con tàu kiểu Tây phương. Hải quân mới của nhà Nguyễn cũng đóng vai trò quan trọng trong các trận quyết định như vào năm 1801-1802 (tại Thị Nại) khi cả hai bên huy động đại quân cả trên bộ lẫn dưới nước.

Thời kì 1790-1802 đánh dấu sự chuyển đổi trong thái độ của người Việt đối với đại dương và các nước khác. Trong vòng 12 năm, dân tộc Việt Nam, những người trước đó bị cho là không hợp với các chuyến hải hành đường dài, đã học được các kỹ thuật nước ngoài, áp dụng chúng trong hoàn cảnh địa phương để xây dựng một hạm đội mạnh. Một ví dụ mang tính biểu tượng cho sự mở cửa của Việt Nam ra với biển: đoàn sứ thần do nhà Nguyễn gửi đến Trung Quốc để xin hoàng đế nhà Thanh công nhận triều Nguyễn đã đi bằng đường biển thay vì đi qua biên giới phía bắc như hàng thế kỷ trước đó.

Trong thời hậu chiến, các con tàu kiểu châu Âu cũng được dùng cho việc buôn bán. Chúng không chỉ chở gạo từ miền nam ra miền trung Việt Nam, mà còn dùng cho các hành trình ra nước ngoài. Gia Long năm 1802 chấm dứt việc gửi phái đoàn thương mại ra nước ngoài để mua súng đạn, nhưng Minh Mạng sau đó lặp lại lề thói này. Các chuyến hải hành thương mại cũng đem lại cơ hội cho thủy thủ đoàn Việt Nam tập ra biển lớn, và sử dụng kỹ thuật phương Tây. Năm 1823, Minh Mạng ra lệnh cho thủy thủ đoàn học sử dụng các dụng cụ đi biển, học xác định phương hướng. Năm 1835, các chỉ thị tương tự ban hành xoay quay việc nhập khẩu các kỹ thuật hải trình; năm 1842, đến lượt người kế vị Minh Mạng, Thiệu Trị, ra các chỉ thị như vậy.

Ý chí chính trị học hỏi các kỹ thuật nước ngoài đạt đỉnh cao trong cuối thập niên 1830 khi Minh Mạng ra lệnh mua tàu chạy bằng hơi nước. Phan Huy Chú năm 1833 lần đầu tiên nhìn thấy tàu hơi nước ở Batavia, và Lý Văn Phức mô tả một tàu khác trong chuyến đi đến Calcutta. Năm 1839, Việt Nam mua con tàu hơi nước đầu tiên, sau đó là ba thuyền khác – có tên Yên Phi, Vũ Phi và Hương Phi. Năm 1844, một con tàu lớn hơn được mua, với tên Diễn Phi.

Đáng lưu ý là ngay cả người Pháp, cho đến trước năm 1816-1818, còn chưa dùng tàu hơi nước cho các sứ mạng thương mại. Đến cuối thập niên 1820, các hạm đội Anh và Pháp mới đặt hàng các tàu hơi nước đầu tiên. Tại châu Á, người Hà Lan đặt hàng con tàu hơi nước đầu tiên cho hạm đội của họ năm 1837, và một hai năm sau mới có con tàu thương mại đầu tiên.

Trong khi đó mãi đến thập niên 1830, vua Rama III của Thái Lan mới quyết định chỉ dùng toàn mô hình châu Âu cho hạm đội nhà nước Thái. Tức là trong khi người Thái mới bắt đầu nói về tàu kiểu Tây phương, thì Việt Nam đã mua tàu chạy bằng hơi nước. Có vẻ như trong nửa đầu thế kỷ 19, tại châu Á, Việt Nam thuộc một vài nước đầu tiên quan tâm kỹ thuật hàng hải châu Âu.

Năm 1839, mối quan tâm đạt đỉnh điểm khi người Việt định sao chép và tự đóng một con tàu hơi nước trong xưởng ở Huế. Nỗ lực này thất bại. Kỹ năng sao chép kỹ thuật phương Tây của người Việt đã đạt đến giới hạn khi họ đối diện sự phức tạp của một đầu máy hơi nước. Có vẻ không thể cứ học mót kiến thức về khoa học nước ngoài. Nỗ lực của người Việt muốn theo kịp kỹ thuật mới nhất của phương Tây không chỉ thể hiện ý chí của vua Minh Mạng muốn thu vén các kỹ thuật nước ngoài cho đất nước. Nỗ lực đó còn thể hiện giới hạn của chính sách này. Liệu Việt Nam có thể nhận hết các kỹ thuật mà không chịu học các nguyên tắc nền tảng mà đã giúp tạo ra các kỹ thuật chăng?

Mở cửa hay khép cửa?

Hai chủ đề, xây thành và đóng tàu, cho thấy việc học kỹ thuật nước ngoài đã không chỉ là chính sách thời chiến của nhà Nguyễn, mà tồn tại liên tục trong ba triều vua đầu tiên. Mối quan tâm học từ nước ngoài cũng không giới hạn trong các vấn đề quân sự. Bài của Frédéric Mantienne cho rằng chính sách của nhà Nguyễn không phải là bác bỏ các kỹ thuật nước ngoài, mà thực chất đã đón nhận rộng rãi chúng. Ngay cả thời Minh Mạng cũng không đi ngược lại chính sách của cha ông; ngược lại, người ta để ý một nỗ lực ra ngoài biên giới để mua hàng hóa và kỹ thuật nước ngoài, nhất là kỹ thuật. Gia Long và Minh Mạng nhận thức rõ về các đe dọa phương Tây, và làm hết sức để gạt bỏ ảnh hưởng chính trị phương Tây ra khỏi vương quốc. Việc họ từ chối các giao dịch chính thức với cả người Pháp và Anh, ý chí kiểm soát thương mại của người châu Âu, cũng như sự thù địch với Thiên chúa giáo – tất cả là kết quả của nỗi sợ về đe dọa của phương Tây. Nhưng mặt khác, các vua Nguyễn cũng rất cởi mở trước các khía cạnh khác của thế giới bên ngoài, trong đó có Tây phương. Không chịu nhắm mắt trước thế giới bên ngoài, họ muốn duy trì sự độc lập giữa một thế giới châu Á đang sắp sụp đổ dưới sức nặng của sự bành trướng châu Âu. Việc học hỏi và áp dụng các kỹ thuật phương Tây là bằng chứng cho điều này.

Ấn tượng sau khi đọc bài của Frédéric Mantienne có thể là: quyết tâm đổi mới đất nước thông qua việc du nhập các kỹ thuật tân tiến từ bên ngoài là một chuyện, còn mức độ khả thi lâu dài là ở đâu nếu không chấp nhận các nguyên tắc và môi trường đã nuôi dưỡng những kỹ thuật ấy?

(Source: BBCV)


Xem online : Kỳ 1