Menu

Trang nhà > Lịch sử > Danh nhân > Théodore Monod (1902-1998)

Naturalist

Théodore Monod (1902-1998)

Thứ Năm 16, Tháng Tám 2007

Théodore Monod chính là nhà tự nhiên học theo đúng nghĩa của từ này, và là một trong những người vĩ đại cuối cùng của thời đại ngày nay (Ảnh: T.Monod năm 92 tuổi trong sa mạc Mauritanie).

Trong khi mà các nhà nghiên cứu dù là giỏi giang mấy cũng chỉ chọn cho mình một khu vực chuyên biệt với đầy đủ các phương tiện máy móc... thì Théodore Monod vẫn làm việc theo lối của Aristote cách đây hàng nghìn năm khi phân loại động vật, thực vật..., hay cách của Darwin, người đã đi vòng quanh thế giới để viết cuốn "Nguồn gốc các loài". Đó là những người làm việc với phương tiện thô sơ nhưng say mê kinh khủng và đã tìm ra bao phát kiến khoa học - "một giống người cũ đã sắp tuyệt chủng", như ông vẫn thường nói.

"Giống người cũ" ấy được trời phú cho một sức khoẻ không thể chê được, một trí nhớ tuyệt vời, với sự hiểu biết bách khoa cùng một tính cách mạnh mẽ. Cho đến khi 96 tuổi, Monod thật sự đã in bóng mình trên khắp sa mạc Sahara. Ông già đó đi vào sa mạc như đi trong thánh đường. Người ta còn nói miền hoang mạc Adrar Mauritanie, phía tây Sahara, chính là "giáo phận" của ông.

Vừa chống gậy, ông già vừa kiên nhẫn rảo bước trên sa mạc. Tinh thần vui vẻ, mũ len sụp xuống đầu, túi dết lủng lẳng trên vai, sổ và bút cầm ở tay. Ông già nhìn soi mói mặt đất. Rồi dừng lại, quỳ xuống. Cuốc lên một mẩu đá và xem xét các mảnh vụn, sau đó nhét vào túi dết. Và lại tiếp tục đi con đường theo bước chân chậm rãi của lạc đà, con vật mà ông thích cưỡi hơn tất cả mọi loại xe cộ. Đó chính là hình ảnh mà người ta còn nhớ mãi về Théodore Monod, vị giáo sư râu quai nón trắng của Viện Hàn lâm khoa học, nhà nhân văn chủ nghĩa đấu tranh vì quyền con người, kịch liệt chống bom nguyên tử, người ăn chay theo lối khắc khổ nhất vì thương xót loài vật...

Ngay khi còn là sinh viên, Monod đã rất giỏi về động thực vật học. Năm 1922 ông đã vào làm việc tại Bảo tàng Lịch sử tự nhiên quốc gia như một nhà ngư học. Cùng năm đó, Monod đã đi Nouadhibou, thuộc miền Mauritanie, để nghiên cứu bờ biển và nghề cá. "Và tôi đã đối mặt với chất lỏng kỳ diệu đó, - Monod nói về cát như vậy - còn đằng sau tôi, là cả một đại dương cát làm tôi bàng hoàng, mê mẩn". Một năm sau, ông lại đối mặt với sa mạc. Khi về Pháp, Monod không đi tàu mà nhập bọn cùng với một đoàn lạc đà xuyên Sahara để đến Dakar. Con đường thật khốn khổ. Yên lạc đà vùng Mauritanie quá bé khiến Monod bị đau. Nhưng có hề gì! Bởi vì từ đó nhà ngư học đã quyết định hiến cả đời mình để nghiên cứu sa mạc.

Năm 1927, Monod được tuyển chọn vào đoàn thám hiểm khoa học đi Augiéras-Draper. Họ đã vượt qua vùng trung tâm Sahara, từ Hoggar đến tận sông Niger. Và nhà khoa học trẻ đã thu thập những dữ kiện địa lý trong toàn vùng. Cùng với Vladimir Besnard, ông đã tìm thấy bộ xương của người thời đồ đá cũ vùng Asselar, rất khác người Touaregs. Đây cũng chính là phát kiến khoa học lớn đầu tiên của ông: Trước kia, sa mạc Sahara là một vùng đất xanh tốt, là nơi cư ngụ lý tưởng của thực vật và động vật. Sau này, khi vào lính, làm lính cưỡi lạc đà loại hai của đại đội Tidikelt-Hoggart vùng Sahara, Monod vẫn không ngừng học hỏi từ sa mạc. Rồi trở thành lính lạc đà thiện chiến. Năm 1930 về Paris cưới vợ. Bốn năm sau lại đi Sahara. Các chuyến đi cứ nối tiếp nhau. Monod đến những vùng đất xa lạ với người đời, nghiên cứu địa hình, địa mạo, quan sát và vẽ, và thu thập các mẫu cây cỏ, động vật... Từ những chuyến đi đó, ông đã viết những tác phẩm khoa học tuyệt vời, cũng như những cuốn sách du ký hấp dẫn. Chính ông đã thành lập và lãnh đạo Ifan (Viện nghiên cứu Pháp về châu Phi đen) ở Dakar. Tại nơi này, ông đã thực hiện vô số chuyến đi vào sa mạc, có được những khám phá khiến ông nổi danh và trở thành giáo sư của Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Pháp. Từ năm 1980, khi vợ ông qua đời, cho đến chuyến đi thám hiểm cuối cùng ở Adrar vùng Mauritanie năm 1998, khi đã 96 tuổi, ông như một kẻ hành hương trên sa mạc, một kẻ kiếm tìm không mệt mỏi.

Ông say mê tìm mảnh thiên thạch Chinguetti. Mảnh thiên thạch cao 40m, rộng 100m như đại uý Ripert, người đã mang về một mẩu nhỏ cho Bảo tàng năm 1916, mô tả. Vì hòn đá đó, dù đã rất già, Monod vẫn vượt qua gió cát của sa mạc. Sau nhiều năm tìm kiếm không thành. Ông đọc một diễn văn tại Viện Hàn lâm khoa học và kết luận rằng thiên thạch Chiguetti không tồn tại. Năm 1940 ông khám phá ra loài Monodiella flexuosa, một loài hoa có một không hai ở sa mạc Libye, và để làm một nhà thực vật người Anh dám chê bai ông phải "ngậm miệng lại", Théodore Monod đã "dầm mình trong cát sa mạc Tibesti" để có được đầy đủ phân loài và biến thể của loài hoa đó.

Năm 1988, bộ phim Ông già và sa mạc của Karel Prokop đã ra đời, và công chúng hiểu rằng họ đang xem một trong những nhà tự nhiên học vĩ đại nhất, người như là con của cát và sa mạc, người vẫn đi vào sa mạc bằng lạc đà, theo kiểu dân Sahara, và không có bất cứ một phương tiện liên lạc nào.

Théodore Monod mất năm 1998. Ông đã thu thập được hơn 20 nghìn mẫu vật các loại. Đi 124 chuyến thám hiểm trong sa mạc. 157 loài động vật và thực vật do Monod khám phá đã mang tên ông. Trong túi dết của ông, luôn có cuốn Triết gia nhỏ bỏ túi, Kinh Thánh, sách thực vật học, sách của Shakespeare và thơ của William Jeffries... Khi người ta đã hỏi ông: Vì sao ông lại mê sa mạc đến thế? Ông già đã nói: "Vì tôi có cái để làm ở đó". Trong sách của mình, ông cho sa mạc là trường học dạy con người "về sự ẩm ướt, sự đạm bạc và cố gắng". Đối với Théodore Monod, vì loài homo (người) mà ta gọi là sapiens (khôn ngoan) đó chưa chắc là sẽ tồn tại dài lâu, cho nên hoang mạc làm ta xúc động vì đó là thiên nhiên trước khi có con người. Và có thể cũng là cảnh tượng thiên nhiên sau khi con người biến đi. "Hoang mạc cũng có thể cực kỳ buồn chán." - Monod nói. - "Một ngày liền cưỡi lạc đà làm ta phát ngấy. Và ta thật là mừng khi được dừng lại lúc đêm xuống... Dù thế nào đi nữa, hoang mạc thật là đẹp, thật là sạch. Hoang mạc không nói dối, mọi thứ bày ra cho ta nhìn thấy. Thậm chí có một cái gì trơ trẽn nữa. Đó là một thiên đường của các nhà địa chất. Ở đó trái đất bị trần trụi. Ở đó những cồn cát cao 200m, có từ thời đồ đá mới, mà để thấy được sự chuyển động của nó ta phải quay lại quá khứ một nghìn năm. Ở đó cũng có sự im lặng, sự mộc mạc, sự đạm bạc... mà ta phải học mãi".

Hoài Khanh (LĐ)